Có được lái ô tô con không nếu thị lực dưới 5/10?

Vừa rồi, Bộ GTVT và Bộ Y tế có ban hành Thông tư 24/2015/ TTLT-BYT-BGTVT, có quy định chi tiết về các tiêu chuẩn sức khỏe đối với người điều khiển xe, và việc khám sức khỏe và cơ sở y tế dùng để khám sức khỏe định kỳ cho người điều khiển ô tô

Có được lái ô tô con không nếu thị lực dưới 5/10?

Có được lái ô tô con không nếu thị lực dưới 5/10?

Theo Thông tư, những người không đủ điều kiện được lái phương tiện để tham gia giao thông với các hạng xe tương ứng không được mắc một trong những bệnh tật dưới đây.

Trường hợp không đủ điều kiện để thi bằng lái xe máy A1: có xuất hiện những dấu hiệu của bệnh tâm thần, thị lực nhìn xa 2 mắt dưới 4/10 (kể cả với người đã được điều chỉnh bằng kính), với người còn 1 mắt thì kể cả đã được điều chỉnh thông qua kính mắt mà thị lực vẫn ở mức 4/10, người bị rối loạn nhận biết về 3 màu cơ bản của đèn báo hiệu giao thông như đỏ, xanh lá cây, vàng; người bị cụt hoặc mất chức năng hoạt động của một bàn tay hoặc một bàn chân, hoặc 1 trong những tay chân còn lại không được toàn vẹn

Với thi bằng lái xe hạng B1 nếu có dị tật cũng không được tham gia thi lấy bằng và điều khiển xe

Những người không có đủ điều kiện để lái ô tô con: người có thị lực nhìn xa với 1 mắt hoặc 2 mắt (kể cả đã được điều chỉnh bằng kính) dưới 5/10; bị rối loạn khả năng nhận biết với 3 màu đỏ, xanh lá cây, vàng.

Với người thi bằng lái xe hạng B2, xe khách, xe tải có trọng lượng trên 9 tấn, các xe phân khối lớn, container,…có những bệnh tật sau sẽ không được lái xe: bị rối loạn về tâm thần tuy đã chữa khỏi nhưng chưa đủ thời hạn 24 tháng, rối loạn tâm thần mãn tính; Người có thị lực nhìn xa đối với từng mắt: mắt kém hơn 5/10, mắt tốt 8/10 kể cả đã được điều chỉnh bằng kính; có tật khúc xạ ở mắt với số kính từ 5-8 đi ốp; người bị lác mắt, quáng gà; người có bệnh về tim mạch, huyết áp…

Đối với những người bị gù và vẹo cột sống quá mức, gây tình trạng bị ưỡn cột sống; hen,  bị khớp giả; chiều dài tuyệt đối giữa 2 tay với 2 chân bị chênh lệch từ 5 cm trở lên nhưng không có công cụ nào để hỗ trợ… Những trường hợp này đều không đủ điều kiện thi bằng lái xe A2 – A4, B2,C,D,…

Ngoài ra, người lái xe phải hoàn toàn bảo đảm sự trung thực khi cung cấp các thông tin liên quan đến sức khỏe của bản thân, luôn tự chủ động đi khám lại sau thời gian phải điều trị bệnh, tai nạn. Riêng đối với người lái xe ô tô phải đi khám sức khỏe theo định kỳ.

Lưu ý: Những tiêu chuẩn này không được áp dụng cho người điều khiển xe mô tô có 2 bánh với dung tích xi –lanh nhỏ hơn 50cm3

Đánh giá

Add a Comment

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *